Nguồn gốc di sản
Không biết từ bao giờ, cộng đồng người Khơ Mú đã thực hành, phát huy các lễ hội truyền thống đó và cùng nhau sáng tạo nên những điệu múa gắn với nghi lễ, gắn với đời sống sinh hoạt mà người Khơ Mú gọi là “tẹ” mang nội dung về sự đoàn kết, gắn bó, nỗ lực của con người trước thiên nhiên; về cuộc sống lao động, sản xuất, vì sự ấm no của mỗi gia đình với cách thể hiện khỏe khoắn, sôi động và lạc quan. Trong đó nổi bật như: múa chiêng kết hợp với ống tre, ống nứa (Tẹ ôm đing); múa đánh đao (tẹ tăm đao); múa sạp (tẹ khiêps); múa chọc lỗ tra hạt (tẹ chư mon); múa lắc eo (tẹ cưn viết guông); múa cá lượn (tẹ gănr cạ); múa vòng tròn (Tẹ kưn vong do), múa đuổi chim... Thông qua các điệu múa, họ gửi gắm niềm tin, khát vọng về cuộc sống tốt đẹp và thể hiện nét văn hóa đặc trưng của người Khơ Mú ở Điện Biên..
Hình thức thể hiện
Múa Tăm đao (Tẹ Tăm đao)
Theo tiếng Khơ Mú, "tăm" là đánh, "tẹ" là múa, "tăm đao" là đánh đao (giống như đánh đàn, điều chỉnh nốt nhạc để tạo tiết tấu, âm thanh) còn "tẹ tăm đao" là múa đánh đao (tay đánh đao kết hợp với ngôn ngữ hình thể tạo ra điệu múa đặc trưng của người Khơ Mú).
Múa Tăm đao là điệu múa được dành cho nữ giới, đạo cụ sử dụng là Tăm đao. Nguồn gốc của múa Tăm đao bắt nguồn từ việc người phụ nữ cầm đao để đánh trong quá trình đi nương, đi rừng. Khi quay trở về, trên lưng họ gùi thóc, gùi măng hay các loại rau rừng họ gõ đao tạo ra những âm thanh vui tai để quên đi sự mệt nhọc. Buổi tối trăng lên, người con gái ngồi gõ đao để gọi chàng trai đến. Tiếng đao buồn hay vui được xuất phát từ tâm trạng của người phụ nữ. Những cây đao muốn sử dụng được lâu bền và tạo âm thanh vang và hay thì phải được cất giữ cẩn thận, trước khi dùng người ta mang ngâm vào nước để đao giãn nở cũng như giữ được độ tươi của đao.
Tăm đao thực chất vừa là một loại nhạc cụ dân gian đặc trưng của dân tộc Khơ Mú và cũng là đạo cụ khi múa. Tăm đao được làm từ thân của cây nứa nhỏ - nứa làm đao phải là nứa già vừa đủ (theo cảm nhận và kinh nghiệm của người Khơ Mú) mới tạo âm thanh vang và hay, có thể là đao to hoặc đao bé (đao mẹ và đao con), đao mẹ sử dụng tạo ra âm thanh chính. Việc sử dụng đao lớn bé khác nhau còn phụ thuộc vào đội hình múa có khă năng sử dụng đao thành thạo hay không, nếu đội hình biết đánh đao tạo âm thanh đồng đều kết hợp những động tác múa thì các đao được lựa chọn để múa là đều nhau; trường hợp đội hình múa sử dụng đao không đồng đều thì có một đao mẹ do một người chính điều khiển đội múa.
Trong đời sống thường ngày, tăm đao vẫn được phụ nữ Khơ Mú sử dụng khi đi làm nương, đi rừng hoặc tham gia vào nghi lễ cầu mưa, lễ cầu mùa. Khi tham gia các nghi lễ này người phụ nữ di chuyển từ nhà thầy cúng đến nương đồi - vị trí được chọn để thực hiện các nghi lễ, họ vừa đi vừa đánh đao tạo âm thanh vui tai như tiếp thêm niềm vui, sự hứng khởi cho những người tham gia thực hành di sản.
Múa chọc lỗ tra hạt (Tẹ chư mon)
Do phải sống ở những vùng khó khăn nên việc phát nương làm rẫy tra hạt là công việc chính của họ, câu tục ngữ “người Thái ăn theo nước, người Xá (tức người Khơ Mú) ăn theo lửa” đã minh chứng rất rõ cho điều này.Vào tháng 3, tháng 4 dương lịch hàng năm, người Khơ Mú tiến hành gieo hạt vụ mới.
Công việc làm nương này cũng có sự phân chia rõ ràng và công bằng, phù hợp với sức lực của từng giới, việc chọc lỗ đòi hỏi nhiều sức lực được dành cho đàn ông, việc tra hạt đòi hỏi sự khéo léo, cần cù được dành cho phụ nữ, chuyện kể lại có người đàn ông chọc lỗ giỏi thì 5 người phụ nữ không tra kịp hạt nhưng ngược lại cũng có người phụ nữ giỏi tra hạt 3 người đàn ông cũng chọc không kịp; sự phối hợp giữa người chọc và tra hạt hết sức linh hoạt ăn khớp để đảm bảo người phụ nữ phải tra vào một lỗ vừa đủ hạt giống để gieo trồng (khoảng 5 đến 6 hạt giống) còn người đàn ông cũng phải chọc lỗ vừa đủ để hạt giống có thể nảy mầm tốt sự nông sâu của lỗ chọc phụ thuộc vào độ phì của từng mảnh nương trồng và tùy từng việc gieo trồng là ngô hay lúa mà họ lựa chọn chọc cho độ sâu phù hợp, công việc này đã trải qua kinh nghiệm được đúc kết hàng trăm năm. Việc chọc lỗ để tra hạt không được tiến hành theo hàng ngang hay hàng dọc hay phải thẳng hàng như việc trồng lúa nước mà việc này phải bắt đầu đi từ tâm (ở đây là lán trông nương của họ- cũng là trung tâm mảnh nương) và gieo ngược chiều kim đồng hồ vì làm như trên sẽ được thuận tay, sau này việc thu hoạch cũng phải tiến hành như trên.
Sau khi chọc lỗ và tra hạt xong họ không lấy đất để lấp lỗ lại mà việc này được thiên nhiên thực hiện những tàn tro của việc đốt nương trước đó sẽ nhờ gió bay đi khắp nơi và tạo thành lớp màu rất hiệu quả để tạo sự sinh trưởng tốt nhất cho mầm giống.
Chính những hoạt động trong đời sống hàng ngày đã phản ánh vào nghệ thuật múa của người Khơ Mú. Nói cách khác, người Khơ Mú đã sáng tạo các điệu múa nhịp nhàng, uyển chuyển với những động tác diễn tả lại cảnh lao động sản xuất. Do đó điệu múa chọc lỗ tra hạt (Tẹ chư mon) được hình thành và đạo cụ được sử dụng khi múa lại chính là những cây gậy dùng để chọc lỗ tra hạt theo vụ mùa.
Xưa kia, ngày rừng còn nhiều thì gậy chọc lỗ tra hạt là một cây gỗ cứng dài từ 1,8m đến 2m vót nhọn một đầu, sau đó gỗ khan hiếm dần người ta cải tiến cây gậy này thành 3 phần: phần đầu gỗ cứng (có thể bịt sắt cho bền), phần thân bằng tre đực và phần cuối được gắn với các nhạc cụ là những ống trúc, tre, nứa nhỏ, có họa tiết, trong đựng những viên sỏi. Khi chọc lỗ, những viên sỏi lăn qua, lăn lại đập vào ống tre, nứa. Ống tre, nứa, trúc lại đập vào nhau, tạo thành âm thanh trầm, bổng tươi vui, rộn rã, làm tan cái mệt nhọc của sự gắng công trong những buổi gieo hạt. Ngày nay, chiếc gậy chọc lỗ tra hạt được làm một cách đơn giản hơn, phổ biến là gậy bằng gỗ hoặc tre khá cứng chắc và được vót nhọt một đầu để chọc lỗ tra hạt.
Để có mùa màng bội thu, người Khơ Mú thường tổ chức Lễ tra hạt để cầu mong các thần linh phù hộ cho dân bản bắt tay vào vụ mùa mới. Trong lễ hội, vũ điệu chọc lỗ tra hạt với chiếc gậy độc đáo hòa cùng nhạc cụ trống, chiêng bao giờ cũng được thể hiện tưng bừng rộn rã như sự giao hòa âm dương, thức dậy những khát vọng về một cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Khi điệu múa bắt đầu, đàn ông khỏe mạnh đi trước, vừa nhún nhẩy, vừa vung gậy chọc lỗ; phụ nữ nối bước đi sau hoặc cũng có khi dàn hàng song song một cặp nam và nữ múa kết hợp. Đây là điệu múa đôi có sự hòa quyện giữa nam và nữ - tượng trưng cho sự giao hòa giữa âm và dương, giữa đất và trời khiến cho hạt giống nảy mầm, cây cối sinh sôi, phát triển. Động tác múa được thực hiện một cách nhịp nhàng, cả nam và nữ cùng lấy chân phải làm trụ, chân trái nhấc lên đưa về phía trước nhằm giữ thăng bằng cho cơ thể; tay phải của người đàn ông cầm đầu trên của chiếc gậy, tay trái cầm ở chính giữa và đặt chéo chiếc gậy ở ngang người, đầu dưới của chiếc gậy dùng để dỗ xuống đất. Lúc này chân phải của cả nam và nữ cùng múa nhảy lò cò 03 lần kết hợp với động tác tay - đối với nam thì dỗ đầu dưới của gậy xuống đất (ở bên trái) 03 lần, nữ ở phía sau hoặc có khi dàn hàng ngang bên cạnh người đàn ông, tay phải nắm hạt, tay trái ném hạt xuống lỗ mà người đàn ông vừa chọc. Kết thúc 03 nhịp chọc lỗ tra hạt, đôi nam nữ múa sẽ dừng nghỉ một nhịp rồi đổi bên. Tiếp đến là chân trái nam và nữ làm trụ nhảy lò cò 03 nhịp, tay đưa sang phải để chọc lỗ, tra hạt. Cứ như vậy, nam đi trước chọc lỗ, nữ nối tiếp đi sau tra hạt giống, chân gạt nhẹ như lấp đất, từng cặp nam nữ múa nhịp nhàng, uyển chuyển, hài hòa trong tiếng trống chiêng rộn ràng. Âm thanh của nhạc khí phát ra từ những chiếc gậy như đánh thức đất trời, khích lệ những người tham gia lao động. Sau mỗi mùa vụ trồng lúa nương, cây gậy chọc lỗ này được đặt trang trọng trên gác bếp để gậy thêm cứng, màu thêm bóng và tránh mối mọt.
Múa sạp (tẹ khiêps)
Tiếng Khơ Mú gọi múa sạp là tẹ mặc khriếp, trong đó tẹ dịch ra là múa, mặc khriếp là sạp. Theo truyền thống trước đây, người Khơ Mú thường thực hành múa sạp trong Lễ cầu mưa hay khi nói đến múa sạp là để cầu mưa. Lễ cầu mưa là một nghi lễ nông nghiệp quan trọng trong đời sống của đồng bào Khơ Mú. Người Khơ Mú quan niệm rằng sau khi gieo hạt - thường là lúa và ngô, muốn có một vụ mùa năng suất cao phải tổ chức lễ cầu mưa, mong trời cho mưa xuống để cây cối phát triển, mùa màng bội thu. Do vậy tháng 3 âm lịch hàng năm, người Khơ Mú tổ chức Lễ cầu mưa trên một khoảnh nương do dân bản lựa chọn. Nghi lễ được tiến hành từ việc cúng tổ tiên và mời các thần sông, thần suối, thần núi, thần rừng, thần thổ địa về ăn, về uống, hưởng thụ lễ vật của bà con dân bản. Khi ăn no, uống đủ hãy phù hộ cho bàn con dân bản vụ mới được mùa. Cúng xong Lễ cầu mưa, thầy cúng mời các vị thần linh phù hộ cho dân bản vui hội, múa sạp được vui vẻ đoàn kết. Nhưng tại sao người Khơ Mú lại chọn múa sạp gắn với tín ngưỡng tâm linh, gắn với nghi lễ cầu mưa. Cũng có thể lý giải rằng những cây sạp dùng để múa được làm từ những cây tre bởi người Khơ Mú có cuộc sống dựa vào tự nhiên - chủ yếu khai thác tre, nứa; ngoài các vật dụng sinh hoạt, họ ăn măng rừng là chủ yếu bởi vậy cộng đồng mới tổ chức lễ "xên lẩu nó" - mừng măng mọc. Những cây sạp cũng được xem là biểu tượng cho mùa măng mọc, muốn măng mọc thì phải cầu cho mưa xuống. Do đó múa sạp xuất hiện trong lễ cầu mưa. Hơn nữa, trong múa sạp có sạp cái, sạp con, có nam, có nữ tham gia múa đã hội tụ các yếu tố âm - dương và sự sinh sôi nảy nở đại diện trong lễ cầu mưa, vì thế con người cầu cho mưa xuống nhằm thỏa mãn mong muốn về một mùa vụ tốt tươi.
Cách múa sạp: Ban đầu múa sạp chỉ thực hành đối với số ít người cùng tham gia vì chỉ có hai cây tre hoặc hai cái chày để gõ. Sau đó con người dần sáng tạo sử dụng nhiều cây tre dành cho nhiều người ngồi gõ để phục vụ cho nhiều người cùng tham gia múa. Thông thường múa sạp ngày nay chuẩn bị đạo cụ cần thiết phải có hai cây tre to, thẳng và dài làm sạp cái và nhiều cặp sạp con bằng tre nhỏ hay nứa (đường kính khoảng 3 - 4 cm, dài 3 - 4m). Khi múa, đặt hai sạp cái cách nhau vừa đủ để gác hai đầu các cây sạp con, từng cây sạp con đặt song song với khoảng cách đều nhau chừng 30 - 40cm tạo thành dàn sạp. Người múa chia ra một tốp đập sàn và một tốp múa, mỗi tốp có đội hình là những đôi trai gái, càng nhiều cặp tham gia càng khiến đội hình thêm phong phú, sinh động. Đối với tốp đập sàn, mỗi đôi trai gái ngồi hai đầu một cặp sạp con rồi gõ, cứ ba lần gõ sạp con lên sạp cái thì một lần gõ hai sạp con vào nhau tạo ra âm thanh, tiết tấu cho múa, thỉnh thoảng người gõ và người múa đồng thanh "hú" nhằm tạo không khí thêm vui tươi, rộn ràng. Đối với tốp múa, lần lượt từng cặp trai gái nhảy vào dàn sạp, có khi người múa chỉ là nữ, họ nắm tay nhau để múa. Động tác khi lướt nhẹ nhàng, uyển chuyển, lúc dồn dập. Đội hình biến đổi ngang, dọc, chéo, tròn tất cả đều diễn ra trên dàn sạp nhưng vẫn chú ý đúng nhịp và hai chân không bị kẹp khi hai sạp con chập vào nhau. Hai tốp sạp và tốp múa thay nhau tạo không khí luôn rộn ràng trong tiếng trống, tiếng chiêng.
Múa Ong eo - múa lắc eo (tẹ cưn viết guông)
Múa Ong eo (Tẹ cưn viết guông) thường diễn ra vào các dịp lễ tết, hội hè, mừng cơm mới hay khi kết thúc mùa vụ. Múa Ong eo của người Khơ Mú là điệu múa dành cho nữ giới với động tác chủ yếu là lắc hông, uốn lượn eo, xoay dần xuống rồi xoay dần lên một cách uyển chuyển, nhịp nhàng, mô phỏng các động tác, cử chỉ lao động hàng ngày của người dân. Điệu múa biểu trưng cho mối cộng cảm giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, đặc biệt là để tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ. Từng nhịp điệu đều liên quan mật thiết với tín ngưỡng cầu mùa và khát vọng về tình yêu đôi lứa. Các cô gái với váy áo thổ cẩm rực rỡ ôm sát cơ thể, nụ cười duyên dáng, nhịp gót chân nhún nhảy rộn ràng, uốn lượn lưng eo tạo nên sự cuốn hút cho người xem. Các động tác múa Ong eo là lắc hông tại chỗ, lắc hông ngồi, lắc hông bước sang ngang, lắc hông di động. Đây là điệu múa đặc trưng nhằm tôn lên vóc dáng và vẻ đẹp của phụ nữ Khơ Mú. Múa Ong eo được sử dụng khá phổ biến và kết hợp với nhiều điệu múa khác như: Tăng bẳng, tăm đao, múa vòng.
Múa Ong eo là điệu múa độc đáo và dễ dàng nhận diện được chủ thể thực hành là người Khơ Mú, nó không thể lẫn với dân tộc khác. Đây cũng là điệu múa được phụ nữ Khơ Mú rất yêu thích thể hiện bởi họ khoe được vóc dáng, trang phục và sự tinh tế của người phụ nữ, không những thế vẻ đẹp và sức thu hút của điệu múa đã mang lại cho người xem những cảm mến và sự lôi cuốn.
Múa cá lượn (tẹ gănr cạ)
Múa cá lượn (Tẹ gănr cạ) thường được múa trong các dịp lễ hội, ngày vui của gia đình hoặc ngày vui của cộng đồng thôn bản. Đây là điệu múa rất đặc trưng, xuất phát từ hiện thực cuộc sống - khi người Khơ Mú đi bắt cá, ngồi ngắm nhìn những con cá bơi đi, bơi lại giữa làn nước trong veo. Về nhà, người Khơ Mú hình dung ra những động tác đuôi cá, vây cá chuyển động và sáng tác ra điệu múa, đặt tên là cá lượn. Động tác của múa cá lượn chủ yếu được thể hiện qua việc một tay cầm ống tre, chân nhún, nghiêng mình và dùng tay còn lại đưa lướt mềm mại, nhẹ nhàng từ phía trước dọc theo cơ thể đưa tay ra sau rồi đổi bên với động tác tương tự. Âm thanh, nhịp điệu cho múa cá lượn được chủ thể - người thực hành tạo ra từ những ống tre. Tay cầm ống tre dỗ xuống đất 03 nhịp cho tay kia thể hiện động tác cá lượn. Động tác ấy khiến người xem mường tượng ra cảnh những con cá đang lướt mình trong nước, thân đang uốn lượn, nhảy múa tung tăng. Qua đó ta thấy được sự tươi vui, rộn ràng xen lẫn sự dịu dàng, mềm mại, thướt tha được cộng hưởng trong điệu múa cá lượn.
Múa đuổi chim
Múa đuổi chim là điệu múa có sự kết hợp giữa nam và nữ, đây là điệu múa thường được thực hành trong lễ cầu mùa. Nam và nữ múa xen kẽ, đi theo vòng tròn. Cách thực hiện động tác múa như sau: Chân phải làm trụ, chân trái đưa thẳng về phía trước, tiếp đó chân phải nhảy lên 03 bước kết hợp với 02 bàn tay úp vào nhau, lấy cổ tay làm trụ, đầu ngón tay đặt ngược chiều nhau, xòe hình cánh quạt đặt ở phía trước - ngang đầu người múa. Khi chân phải nhảy lên thì tay phải hướng về phía trước. Ngược lại, khi chân trái làm trụ nhảy lên thì chân phải đưa thẳng về phìa trước, tay ở trên cũng xoay chuyển sang tay trái hướng về phía trước. Âm nhạc hỗ trợ cho điệu múa này là các nhịp trống, chiêng, mỗi động tác múa được thể hiện trong 03 nhịp rồi chuyển động tác hoặc đổi bên.
Ngay từ tên gọi của điệu múa đã nói lên nội dung, ý nghĩa của nó. Từ khát vọng của cộng đồng về lao động cho mùa màng bội thu nên tư duy của con người cũng nghĩ giản đơn là phải ngăn chặn chim muông và các con vật khác, không cho đến phá hoại mùa màng. Cũng từ đó, người Khơ Mú sáng tạo các động tác múa để mô phỏng về hiện thực đời sống, vì thế đã tồn tại điệu múa đuổi chim.
Múa vòng (Tẹ kưn vong do)
Đây là điệu múa tương đối quen thuộc của rất nhiều dân tộc vùng Tây Bắc, đặc biệt tiêu biểu đối với dân tộc Thái. Tuy nhiên, người Khơ Mú cũng sử dụng múa vòng (tức xòe vòng theo tiếng Thái) là một điệu múa truyền thống của dân tộc mình. Cũng vì hiện nay Xòe vòng trở lên phổ biến với tất cả các dân tộc vùng Tây Bắc cho nên rất khó xác định xòe vòng của người Khơ Mú xuất hiện từ khi nào, bắt nguồn từ sự sáng tạo của người Khơ Mú hay tiếp thu có chọn lọc từ các dân tộc khác. Điều dễ nhận thấy điệu múa này có sức hút và tầm ảnh hưởng rất lớn đến cộng đồng vì điệu múa đơn giản, ai cũng có thể tham gia để hòa mình vào không khí đầm ấm, tươi vui và khẳng định mình trước vũ trụ và sự hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc.
Ở lễ hội của người Khơ Mú phần múa vòng luôn là phần cuối cùng của lễ hội, mọi người tay trong tay cùng chung nhịp xòe luôn tạo được nhiều cảm xúc cho những người tham gia.
Múa vòng (Tẹ kưn vong do) được diễn ra trên một khoảng sân rộng, mọi người nắm tay nhau cùng bước theo nhịp xòe, cùng xoay một chiều theo nhịp trống, chiêng. Múa vòng thường di chuyển theo chiều kim đồng hồ - từ trái qua phải. Động tác của múa vòng bắt đầu từ chân trái bước chéo lên, chân phải bước theo, tay đưa lên cao rồi nhún. Nhịp tiếp theo là chân phải bước xuống, chân trái rút về, tay hạ xuống thấp rồi nhún. Cứ như vậy mọi người nắm chặt tay nhau, đưa bước chân nhịp nhàng và trao cho nhau ánh mắt, nụ cười thân thương, trìu mến như một sự khích lệ, động viên và truyền cho nhau sức mạnh, niềm tin vào một cuộc sống tốt đẹp.
Giá trị
Giá trị tiêu biểu
Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể
- Giá trị lịch sử: Nghệ thuật múa Khơ Mú tồn tại, phát triển đến nay là một minh chứng lịch sử cho sự phát triển của nghệ thuật múa dân gian Việt Nam nói chung và của dân tộc Khơ Mú nói riêng. Thông qua Nghệ thuật múa Khơ Mú có thể nghiên cứu, tìm về lịch sử hình thành bản sắc văn hóa của người Khơ Mú và hiểu được những tư duy, sáng tạo nghệ thuật của cộng đồng.
- Giá trị văn hóa: Nghệ thuật múa Khơ Mú thể hiện rõ nét đẹp văn hóa đặc trưng của đồng bào như: Người Khơ Mú có một kho tàng về ngữ văn dân gian, trong đó có những truyện kể dân gian nói về sự tích ra đời một số điệu múa.
- Giá trị khoa học: Nghệ thuật múa Khơ Mú là cơ sở cho các nhà nghiên cứu về văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng, xác định được loại hình nghệ thuật này đã xuất hiện, tồn tại và phát triển gắn với lịch sử phát triển của đất nước, đây là di sản văn hóa mang giá trị tiêu biểu của dân tộc Việt Nam; đồng thời Nghệ thuật múa Khơ Mú còn khơi nguồn cảm hứng cho những người say mê nghệ thuật và cho ra đời những tác phẩm, những công trình nghiên cứu, những sáng tạo nghệ thuật có giá trị.
- Giá trị thẩm mỹ: Nghệ thuật múa Khơ Mú được sáng tạo từ quan niệm, tư duy, cảm nhận về cái đẹp, về giá trị thẩm mỹ; đồng thời thực hiện các chức năng nghệ thuật là giáo dục thẩm mỹ, đem lại sự cảm thụ về cái đẹp cho mọi người.
- Vai trò của Nghệ thuật múa Khơ Mú đối với đời sống cộng đồng hiện nay
Sự tồn tại và phát triển của Nghệ thuật múa Khơ Mú đến nay là nhờ những chính sách quan tâm của Đảng, nhà nước đối với văn hóa các dân tộc, một phần phải kể đến ý thức, trách nhiệm của mỗi người dân trong việc phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, coi đó là tài sản vô giá cần được gìn giữ và bảo vệ. Nghệ thuật múa Khơ Mú được coi là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống của đồng bào, được coi là phương thức cho người dân giải trí sau những ngày lao động vất vả, đồng thời Nghệ thuật múa Khơ Mú còn là phương tiện giao tiếp để kết nối mọi người xích lại gần nhau. Nghệ thuật múa Khơ Mú là nét đẹp văn hóa được cộng đồng gửi gắm những tâm tư tình cảm và lấy làm hãnh diện, tự hào về văn hóa truyền thống mà cha ông đã gây dựng và trao truyền. Không những thế, Nghệ thuật múa Khơ Mú còn là nơi khởi nguồn cho tình yêu đôi lứa, những đôi trai gái có thể tìm hiểu và gửi gắm tâm tình, trải lòng qua ánh mắt nụ cười, cùng sóng đôi sánh bước thể hiện những điệu múa nhịp nhàng và bày tỏ tình cảm của mình. Nghệ thuật múa Khơ Mú đã mang đậm tính dân tộc bởi đã khẳng định được bản sắc riêng có không lẫn với dân tộc nào đồng thời có tính lan tỏa rất lớn bởi đã trở thành sản phẩm nghệ thuật chung của toàn xã hội.
Di sản Nghệ thuật múa Khơ Mú là tài sản vô giá của đồng bào, là sợi dây gắn kết cộng đồng và là cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới, góp phần tăng cường giao lưu văn hoá giữa các vùng miền, các quốc gia đồng thời nâng cao cả về thể lực, trí lực, trình độ thẩm mỹ cho công chúng yêu và có sở thích nghiên cứu, thực hành nghệ thuật múa Khơ Mú. Vì vậy, cần hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể trong Nghệ thuật múa Khơ Mú. Ngày nay Nghệ thuật múa Khơ Mú có thể khai thác, phát huy giá trị để phát triển du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng phục vụ khách tham quan du lịch trong nước và quốc tế.
Hiện trạng
Hiện trạng di sản
Hiện trạng di sản văn hóa phi vật thể
Hiện nay, trong xu thế hội nhập của đất nước có sự giao thoa, ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài nên Nghệ thuật múa Khơ Mú đang có nguy cơ bị mai một. Bên cạnh những điệu múa truyền thống diễn ra trong sinh hoạt cộng đồng đã xuất hiện và đan xen những điệu nhảy và âm nhạc hiện đại, dẫn đến làm giảm nhu cầu thực hành múa truyền thống. Cùng với nó là sự thay đổi về cách sử dụng âm nhạc trong múa, nhiều nơi đã thay thế nhạc cụ truyền thống trực tiếp đệm cho múa bằng âm nhạc điện tử được thu sẵn. Một số lớp trẻ do phải đi xa công tác và học tập nên không thường xuyên tham gia thực hành và tiếp thu những điệu múa truyền thống. Các điệu múa không được thực hành một cách đầy đủ ở các địa phương có người Khơ Mú sinh sống mà mỗi địa phương còn lưu giữ những điệu múa khác nhau. Có nhiều điệu múa đến nay chỉ còn đọng lại trong trí nhớ của một số người đam mê, am hiểu về múa và những người cao tuổi, còn lại không được thực hành rộng rãi. Một số điệu múa có nguy cơ mai một như: Múa Tăm đao trước đây được người phụ nữ sử dụng bất cứ khi nào khi đi nương, đi rừng nhưng ngày nay do nhịp sống hiện đại và hổi hả cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ đã giúp người dân tìm được niềm vui, sự giải trí từ nhiều phương tiện khác cho nên Tăm đao dần không được người Khơ Mú sử dụng thường xuyên trong đời sống, trong lao động. Múa sạp ở một số địa phương còn giữ quan niệm phải tổ chức lễ cầu mưa mới có múa sạp, còn trong sinh hoạt thường ngày không tổ chức múa sạp. Tuy nhiên, lễ cầu mưa hiện nay ở một số địa phương không được cộng đồng duy trì tổ chức hàng năm. Điều này cũng dễ hiểu bởi xuất phát từ nhu cầu thực tế, nếu như trước đây dân bản đặt niềm tin và hy vọng vào các đấng siêu sẽ phù hộ, quá trình lao động sản xuất phần lớn phụ thuộc vào tự nhiên nên phải cầu nguyện mong trời cho mưa xuống nhưng ngày nay khoa học công nghệ phát triển, đã được áp dụng vào sản xuất nông nghiệp để cho năng suất cao. Vậy nên đòi hỏi phải có các giải pháp để bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phù hợp với xu thế phát triển của đất nước.
Được sự quan tâm của Đảng, nhà nước về chính sách văn hóa dân tộc nên công tác bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc được địa phương triển khai thực hiện. Nghệ thuật múa Khơ Mú hiện đang được duy trì và phát triển tại các thôn, bản người Khơ Mú sinh sống và cả trong nghệ thuật chuyên nghiệp. Thông qua hoạt động của các đội văn nghệ tại các thôn, bản dân tộc Khơ Mú; Câu lạc bộ bảo tồn âm nhạc, dân ca, dân vũ truyền thống các dân tộc tỉnh Điện Biên và Đoàn Nghệ thuật tỉnh đã góp phần duy trì và phát triển Nghệ thuật múa Khơ Mú. Hàng năm vào mỗi dịp lễ hội, ngày hội, các buổi sinh hoạt văn hóa cộng đồng...các điệu múa lại rộn ràng, uốn lượn nhịp nhàng cùng những người dân nơi đây.
Biện pháp
Biện pháp bảo vệ
Các biện pháp bảo vệ
- Kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di sản Nghệ thuật múa của người Khơ Mú tỉnh Điện Biên đề nghị đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
- Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, tỉnh Điện Biên Biên đã tổ chức bảo tồn lễ cầu mưa, lễ cúng bản, lễ cầu mùa của người Khơ Mú trên địa bàn tỉnh góp phần bảo tồn Nghệ thuật múa của người Khơ Mú (bởi các lễ hội không chỉ thực hành các nghi lễ mà còn các điệu múa truyền thống cũng được cộng đồng thể hiện).
- Hàng năm Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức lễ hội Hoa Ban, Ngày hội văn hóa, Thể thao và Du lịch, trong các hoạt động này có Nghệ thuật múa của người Khơ Mú được nghệ nhân,chủ thể văn hóa trình diễn, thực hành.
- Ngành đã phối hợp với UBND huyện Mường Ảng cử đoàn nghệ nhân người Khơ Mú tham gia các hoạt động tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam. Tại đây, các nghệ nhân đã tái hiện không gian sinh hoạt cộng đồng, giới thiệu cho du khách hiểu về văn hóa truyền thống của người Khơ Mú, trong đó có Nghệ thuật múa.
- Trang phục dân tộc góp phần làm tăng giá trị của múa Khơ Mú. Do vậy UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên giai đoạn 2019 - 2025, định hướng đến năm 2030. Đồng thời, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ thức thi trình diễn trang phục các dân tộc góp phần gìn giữ, phát huy vẻ đẹp của trang phục truyền thống các dân tộc nói chung, dân tộc Khơ Mú nói riêng.
- Tổ chức trưng bày, triển lãm hình ảnh, hiện vật về đời sống văn hóa nói chung, Nghệ thuật múa của người Khơ Mú nói riêng tại Bảo tàng tỉnh và các gian hàng trưng bày trong Ngày hội văn hóa, Thê thao và Du lịch.
- Sở VHTT&DL phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện để các Nghệ nhân ưu tú tham gia thực hành, truyền dạy và phát huy giá trị di sản tại cộng đồng: Thông qua Ngày hội, lễ hội, hội thi, hội diễn của địa phương tổ chức.
- Tỉnh Điện Biên tiếp tục triển khai việc xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể nhằm kịp thời tôn vinh vai trò của các nghệ nhân và tạo động lực để các nghệ nhân có thêm nhiều cống hiến trong quá trình truyền dạy, gìn giữ và phát huy di sản văn hóa nói chung, Nghệ thuật múa của người Khơ Mú nói riêng.
- Duy trì tổ chức các lễ hội tại cộng đồng như: Lễ cầu mưa, lễ cầu mùa, lễ cúng bản...nhằm bảo tồn Nghệ thuật múa của người Khơ Mú gắn với lễ hội.
- Các bản người Khơ Mú đã thành lập các đội văn nghệ, họ thường xuyên duy trì thực hành các điệu múa vào các dịp lễ hội, ngày hội, lên nhà mới, các ngày vui của bản. Bên cạnh đó, tỉnh Điện Biên đã và đang duy trì hoạt động của Câu lạc bộ bảo tồn âm nhạc, dân ca, dân vũ truyền thống các dân tộc; đặc biệt tỉnh còn có 01 Đoàn Nghệ thuật chuyên nghiệp đã góp phần gìn giữ và phát huy Nghệ thuật múa Khơ Mú.
- Các nghệ nhân người Khơ Mú tự nguyện truyền dạy cho thế hệ trẻ trong cộng đồng để có sự tiếp nối, kế thừa và phát huy nghệ thuật truyền thống.
Thông tin khác
Những thông tin khác về di sản
Tập tài liệu liên quan