Nguồn gốc di sản
Quá trình ra đời, tồn tại của Khèn Mông
Khèn (tiếng Mông gọi là Khềnh, Kềnh, Kỳ) là nhạc cụ độc đáo, gắn liền với hình ảnh những chàng trai dân tộc Mông rắn giỏi, tài hoa hiên ngang giữa đại ngàn gió núi. Cây khèn vừa là nhạc cụ, vừa là đạo cụ, khèn của người Mông cũng vừa là nhạc khí thiêng kết nối giữa cõi trần và thế giới tâm linh nhưng cũng là phương tiện kết nối cộng đồng, phản ánh sâu sắc những sắc thái tình cảm, tâm tư cuộc sống, sự thăng hoa với tinh thần lạc quan yêu đời làm tôn lên vẻ khỏe mạnh, dẻo dai của các chàng trai.
Người Mông ở các địa phương vẫn kể cho nhau nghe về sự tích ra đời của cây khèn rằng:“Xưa có hai vợ chồng sinh được sáu người con trai, người mẹ mất sớm chỉ còn lại cha. Cha nuôi nấng các con trưởng thành, rồi không bao lâu sau người cha cũng mất. Nhớ thương người cha, các con khóc nhiều đến khản cả cổ, không còn tiếng nữa. Anh cả bảo các em chặt cây tre làm sáo thổi cho cha nghe. Thổi đến ngày thứ ba thì ai nấy đều lả đi, không thổi được nữa! Người em út đem gộp tất cả các cây sáo vào với nhau để thổi cho cha. Khi thổi âm thanh vang lên đủ sáu tiếng như sáu anh em nhớ cha mình. Từ đó cây Khèn ra đời và luôn là bạn tâm tình của người Mông để xua đi sự đau buồn, hay thể hiện niềm vui, niềm hạnh phúc bằng những âm thanh trầm bổng, huyền bí của cây khèn”....
Hình thức thể hiện
Cách chế tác cây Khèn Mông
Nguyên vật liệu chế tác cây khèn của người Mông ở Điện Biên gồm: Gỗ Pơ mu, vỏ cây đào rừng, kim loại đồng, ống nứa.
Dụng cụ chế tác khèn cơ bản gồm có: 02 con dao mũi nhọn dùng để cắt, gọt, tỉa và khoét lỗ; 01 con dao có lưỡi cong hình lưỡi liềm, có tay cầm hai đầu dùng để bào, gọt thân khèn; 02 đục dùng để khoét thân khèn; đe, búa; 01 dùi sắt dài dùng để thông ống khèn; bộ đồ nấu đồng và khuôn đúc đồng; cục đá mài; kẹp sắt; kéo cắt.
Cây khèn của người Mông được chia thành 2 phần chính: Thân khèn và ống khèn. Trong mỗi bộ phận chính của khèn còn có nhiều chi tiết như: lỗ thổi - hít, dây đai khèn, lỗ tạo âm, lam khèn(lưỡi gà), lỗ chỉnh âm...Vì vậy việc chế tác khèn cũng thực hiện theo từng bộ phận
Chọn gỗ và làm thân khèn
Người Mông thường chọn gỗ Pơ mu để làm thân khèn (Cáng khềnh), loại gỗ này có mùi thơm, dẻo, nhẹ, không cong vênh, nứt gãy và không hút ẩm nên rất bền. Gỗ Pơ mu sau khi được xẻ thành miếng phù hợp, để khô được người làm khèn đẽo thô thành hình thân khèn, tiếp tục được bào gọt xung quanh sao cho bóng, nhẵn. Khi có được thân khèn vừa ý, người làm khèn khéo léo dùng dao tách dọc thân khèn làm hai phần bằng nhau, sau đó dùng các dụng cụ phù hợp khoét hai nửa thân khèn thành lòng máng, xong công đoạn này, hai nửa thân khèn sẽ được ghép lại. Thân khèn được giữ cố định bằng các đai. Lúc này thân khèn hoàn toàn rỗng và được phân chia thành các phần: Ống thổi khèn, bầu khèn và đuôi khèn. Ống thổi khèn là phần thon nhỏ và dài nhất của thân khèn, phía đầu ống lỗ thổi, thường được bọc một miếng đồng xung quanh vừa có tác dụng trang trí vừa tạo sự chắc bền. Tiếp giáp với ống thổi khèn là phần bầu Khèn. Bầu khèn (tâu khềnh) là đoạn thân khèn phình to hơn các phần khác, trên bầu khèn có khoét sáu lỗ xuyên qua bầu, trong đó có một lỗ lớn và năm lỗ nhỏ, tương ứng với các ống khèn. Hết bộ phận bầu khèn có một đoạn thân khèn thu nhỏ dần, chỉ dài khoảng từ 7- 9cm đó là đuôi khèn (Tớ Khềnh) là phần cuối của thân khèn. ...
Làm ống khèn
Ống khèn (tý khềnh) làm bằng cây nứa (loại nứa có măng ngọt) được lấy về đem luộc chín sau đó phơi nắng hoặc để gác bếp cho khô mới đem ra dùng. Mỗi cây khèn sẽ có sáu ống khèn (một ống to, năm ống nhỏ) với hình dáng và độ dài khác nhau được gắn xuyên qua các lỗ tương ứng đã khoét sẵn trên bầu khèn, phần xuyên qua phía sau bầu khèn của các ống là bằng nhau, phần chính phía trước bầu khèn sẽ có độ dài khác nhau, gồm các ống (tính theo độ dài tăng dần): Tý lua (là ống to, thẳng và ngắn nhất), tiếp đến là ống tý ty, ống tý trù, ống tý bồ ca, ống tý trù ca và ống tý bồ (ống dài nhất). Ống to, ngắn nhất, thẳng thường sử dụng một đốt của thân cây nứa to, không có mấu, các ống còn lại nhỏ, dài thường phải sử dụng nhiều đốt nên khi chế tác người Mông thường dùng một cây dùi sắt dài nung hồng trong lửa để dùi xuyên qua các mấu để thân ống rỗng xuyên suốt. Các ống nhỏ được hơ vào lửa cho nóng, mềm, sau đó uốn cong từ từ từng ống sao cho độ cong vừa phải, hợp lý để khi lắp vào bầu khèn, phần ống đuôi các ống phải thẳng, đều, phần trước cong lên tạo dáng mềm mại cho cây khèn.....
Đúc đồng và lam khèn (lưỡi gà)
Người Mông ở Điện Biên dùng kim loại đồng để làm lam khèn. Để có được lam khèn tốt, người chế tác phải tự nấu đồng và đúc đồng từ những dạng nguyên liệu thô thành những miếng đồng vừa ý, sau đó được rèn thành những lá đồng mỏng, khi tung nhẹ lá đồng lên không trung nếu thấy lá đồng rung đều, phát ra âm thanh trong sáng, vang dền là có thể cắt dùng làm lam khèn...
5.3. Cách sử dụng khèn (khềnh)
Khèn Mông vừa là một loại nhạc cụ thuộc bộ hơi, đồng thời cũng là đạo cụ múa. Cách thổi: Tay phải: ngón cái ống to; ngón trỏ ống 2; ngón giữa ống 3; ngón 4 và ngón út giữ cây khèn. Tay trái cũng vậy. Các ngón tùy theo bài để bịt và nhả. Đối với Khèn Mông khi ngón bịt lỗ âm mới kêu, bỏ ngón ra không kêu. Khi thổi, âm thổi ra hít vào đều được, khèn không thổi được những giai điệu nhanh, chỉ thổi tốc độ vừa phải.
Thổi Khèn đi đôi với các vũ đạo múa, đã thổi khèn là không để đôi chân đứng yên. Khèn không chỉ múa một người mà có thể có nhiều người múa khèn với nhau với các động tác xoay, lộn, đá chân rất đều, đẹp và khỏe khoắn, phù hợp với giai điệu của khèn. Trong múa khèn của người Mông các động tác, tư thế được sáng tạo một cách ngẫu hứng, thăng hoa mang đậm bản sắc văn hóa dân gian Mông. Người múa thể hiện cảm xúc sáng tạo trong say sưa, thể hiện cảm xúc nội tâm mạnh mẽ.
Khèn hiện hữu trong mọi hoàn cảnh sống của người Mông, tuy vậy, việc học thổi khèn Mông rất khó, dù học nhiều cũng khó có thể am hiểu hết được những giai điệu của khèn. Để trở thành một người thổi khèn giỏi, người con trai Mông phải tập khèn từ lúc tuổi còn rất nhỏ, phải có quá trình rèn luyện để có thân hình khỏe, mềm dẻo, nhịp nhàng, nhưng quan trọng hơn cả là cách lấy hơi, rèn khí để hơi được sâu, được dài. Người thổi khèn có tài, không chỉ ở chỗ thổi luyến láy, tô điểm nốt nhạc khèn cơ bản mà còn phải biết thổi nhiều điệu khèn khác.
Động tác múa khèn rất đa dạng, phong phú, gồm: múa nhảy đưa chân, quay đổi chỗ, quay tại chỗ, vờn khèn, lăn nghiêng, lăn ngửa, múa ngồi xổm, đi tiến, đi lùi theo bốn hướng, mỗi bước tiến, bước lùi làm sao chỉ để chân này chạm gót chân kia. Động tác cơ bản là khom lưng, quay hất gót tại chỗ và quay hất gót di động trên vòng quay lớn rồi thu hẹp dần theo hình xoắn ốc…, với tốc độ càng nhanh càng điêu luyện. Đối với các bài khèn vui chơi thì động tác nhảy, múa mãnh liệt, phóng khoáng và khó hơn, như lăn nghiêng, lăn ngửa, đá gà, đá ngựa, nhảy ngồi xổm, tay nọ vỗ vào chân kia, tay kia vỗ vào chân nọ, tiếng vỗ phải kêu, mà tiếng khèn vẫn không dứt. Múa khèn mô phỏng các bước nhẩy khéo léo của trò chọi gà, các động tác xua đuổi thú dữ, các hành động chống lại sự xâm chiếm của các tộc người khác, với nhiều động tác khỏe mạnh, đẹp mắt. Hình thức tạo hình trong múa khèn luôn chuyển động thành nhiều tư thế đẹp, cân đối và vững chắc, có thể trọng lượng dồn lên hai chân hoặc một chân song động tác luôn luôn mở thể hiện sức mạnh, tài khéo léo của các chàng trai.....
Giá trị
Giá trị tiêu biểu
Giá trị của di sản Khèn Mông
Về mặt tâm linh.
Khèn là nhạc cụ độc đáo thể hiện tâm linh, tín ngưỡng truyền thống và là vật linh thiêng trong các nghi lễ, lễ hội của dân tộc Mông. Người Mông quan niệm chết là về với thế giới bên kia, ở đó, con người vẫn tồn tại, vẫn có một đời sống bình thường…
Sau khi đã trọn đời nơi trần thế, con người trở về với tổ tiên. Họ quan niệm nếu không có tiếng khèn, điệu múa khèn thì linh hồn người chết sẽ không về được với tổ tiên. Các bài khèn để an ủi người chết, động viên người nhà, tiễn đưa người chết về với tổ tiên. Hướng dẫn cho linh hồn người chết chọn đường đi về với tổ tiên để làm con người tốt ở thế giới bên kia. Họ tiễn đưa người chết với đầy đủ các vật dụng, gia súc để người chết yên tâm ở thế giới bên kia, sống tiếp kiếp sau, không quay về quấy quả con cháu. Thổi khèn và múa khèn thể hiện lòng tiếc thương của con cháu đối với người đã khuất, nhắc nhở con cháu nhớ về công lao của người đã khuất.
6.2. Về mặt xã hội
Di sản Khèn thể hiện bản sắc văn hóa riêng, độc đáo của cộng đồng người Mông, ghi dấu ấn sâu sắc, khó có thể phai nhạt, mất đi trong các lễ đời sống. Qua các điệu Khèn của người Mông nhắc nhở con cháu nhớ về cội nguồn dân tộc, mang ý nghĩa thiết thực về tính nhân văn, tính cộng đồng cao, đồng thời, là nét đẹp văn hoá góp phần thúc đẩy và làm giàu cho nền văn hoá của các dân tộc ở mỗi địa phương.
Di sản Khèn của người Mông cũng chứa đựng những sáng tạo mang tính khoa học độc đáo, được biểu hiện qua tiết tấu đa dạng, biến hóa khi thổi khèn kết hợp với vũ điệu uyển chuyển, nhịp nhàng khi múa.
6.3. Về mặt nghệ thuật
Nghệ thuật trình diễn khèn thể hiện đặc sắc, kết hợp giữa âm thanh và động tác của người múa với cây khèn, người múa say xưa thể hiện các bài khèn, kèm theo là các động tác nhuần nhuyễn. Khèn thổi đi đôi với múa, đã thổi khèn là không để đôi chân đứng yên.
Trong múa khèn của người Mông các động tác, tư thế được sáng tạo một cách ngẫu hứng, thăng hoa mang đậm bản sắc văn hóa dân gian Mông. Người múa thể hiện cảm xúc sáng tạo trong say sưa, thể hiện cảm xúc nội tâm mạnh mẽ
Vai trò của Khèn trong đời sống của người Mông
Trong công động của người Mông ở Điện Biên hiện nay, cơ bản nam giới từ thiếu niên đến tuổi trưởng thành đều biết múa khèn, tuy nhiên những người giỏi, xuất sắc thì không nhiều, đặc biệt là những người có thể chế tác khèn giỏi càng ít, mỗi địa phương chỉ có một đến hai người, có địa phương không có người nào. .
Thầy khèn có vai trò quan trọng trong đám ma và đám giỗ. Bởi trong quá trình làm các nghi thức cúng tế, thầy khèn cùng với thầy cúng phải sử dụng các bài văn cúng tế để giao tiếp với các thần linh. Chỉ có như thế mới tiễn đưa được linh hồn người chết về với tổ tiên, tổ tiên mới hiểu để chấp nhận linh hồn người mới chết, đưa họ về với tổ tiên.
Múa và thổi khèn trong đám ma vừa thể hiện tính nhân văn, vừa thể hiện tính nghệ thuật, không chỉ cho người Mông niềm tin vào cuộc sống mà còn thỏa mãn những nhu cầu tâm linh của họ.
Hiện trạng
Hiện trạng di sản
Theo số liệu khảo sát thực tế ở một số địa phương trong tỉnh, hiện nay, trên địa bàn tỉnh Điện Biên còn một số người biết và có khả năng truyền dạy nghề chế tác Khèn Mông.
- Nghệ nhân ưu tú Lý A Lệnh, sinh năm 1964, bản Nặm Chan 2, xã Mường Đăng, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
- Ông Hậu Phái Sếnh, sinh năm 1954, bản Pú Súa, xã Ẳng Cang, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
- Ông Hảng A Chú, sinh năm 1966, bản Huổi Thủng, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
- Ông Hạng Sua Hù, sinh năm 1959, bản Phù Lồng A, xã Pu Nhi, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Ông Sùng A Cau, sinh năm 1962, bản Háng Đề Dê, xã Sính Phình, huyện Tủa Cùa, tỉnh Điện Biên.
- Ngoài ra, người Mông ở Điện biên vẫn có thể còn mua khèn ở các địa phương khác về sử dụng như: Sơn La, Lào Cai và một số địa phương giáp biên giới Việt Lào.
Thực trạng của di sản múa khèn mông ở Điện Biên
Cùng với sự phát triển, thay đổi của đời sống xã hội, sự mai một về văn hóa cũng diễn ra trong cộng đồng các dân tộc thiểu số nói chung và cộng đồng dân tộc Mông ở Điện Biên nói riêng.
Tuy nhiên, cây khèn Mông cùng các bài múa khèn không thể vắng bóng trong đời sống sinh hoạt tinh thần của đồng bào Mông, đặc biệt là trong đám ma, đám giỗ. Hiện nay, trong các đám ma, đám giỗ vai trò của người thổi khèn vẫn rất quan trọng, vẫn dược duy trì. Ngoài ra, vào các ngày lễ hội, liên hoan nghệ thuật quần chúng, cây khèn luôn được sử dụng.
Biện pháp
Biện pháp bảo vệ
- Tỉnh Điện Biên đã và đang triển khai Đề án tiếp tục bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc gắn với phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025.
- Kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di sản Nghệ thuật chế tác và múa của người Mông tỉnh Điện Biên đề nghị đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
- Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, tỉnh Điện Biên Biên đã tổ chức bảo tồn Lễ Ma Khô (Ma bò), lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể đưa vào danh mục quốc gia Tết truyền thống (Nào pê chầu), góp phần bảo tồn Nghệ thuật chế tác và múa khèn của người.
- Tổ chức một số Hội thi, Hội diễn, Ngày hội văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp tỉnh và một số Ngày hội cấp huyện đã khuyến khích cộng đồng người Mông tích cực tham gia các hoạt động trong đó có việc gìn giữ và phát huy nghệ thuật khèn.
- UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên giai đoạn 2019 - 2025, định hướng đến năm 2030 góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Mông thông qua bảo tồn trang phục truyền thống khơi dậy ý thức giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc Mông trong đó có nghệ thuật chế tác và múa khèn.
- Tổ chức trưng bày, triển lãm hình ảnh, hiện vật về đời sống văn hóa nói chung, về Nghệ thuật chế tác và múa khèn của người Mông nói riêng tại Bảo tàng tỉnh và các gian hàng trưng bày trong Ngày hội văn hóa, Thê thao và Du lịch. Trong những dịp đó, các nghệ nhân dân gian dân tộc Mông được mời tham gia trình diễn trực tiếp Nghệ thuật múa khèn nhằm giới thiệu, quảng bá tới du khách trong và ngoài nước tìm hiểu, nghiên cứu và trải nghiệm.
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện để các Nghệ nhân ưu tú tham gia thực hành, truyền dạy và phát huy giá trị di sản tại cộng đồng: Thông qua Ngày hội, lễ hội, hội thi, hội diễn của địa phương tổ chức; hàng năm thành lập đội Khèn Mông của tỉnh Điện Biên tham gia dự thi và giao lưu với các tỉnh trong khu vực Tây Bắc.
- Tỉnh Điện Biên tiếp tục triển khai việc xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể nhằm kịp thời tôn vinh vai trò của các nghệ nhân và tạo động lực để các nghệ nhân có thêm nhiều cống hiến trong quá trình truyền dạy, gìn giữ và phát huy di sản văn hóa nói chung, Nghệ thuật chế tác và múa khèn của người Mông nói riêng.
- Duy trì tổ chức các hoạt động tại cộng đồng trong những dịp Quốc khánh 02/9, tết Nguyên đán nhằm duy trì thực hành và bảo tồn Nghệ thuật múa khèn của người Mông.
- Trong cộng đồng người Mông đã thành lập các đội văn nghệ, họ thường xuyên duy trì thực hành khèn Mông vào các dịp lễ hội, ngày hội, các ngày vui của bản, của tỉnh, của đất nước. Bên cạnh đó, tỉnh Điện Biên đã và đang duy trì hoạt động của Câu lạc bộ bảo tồn âm nhạc, dân ca, dân vũ truyền thống các dân tộc; tỉnh đang duy trì 01 Đoàn Nghệ thuật chuyên nghiệp, định hướng sẽ phát triển thành Đoàn ca múa nhạc dân tộc của tỉnh sẽ góp phần gìn giữ và phát huy Nghệ thuật khèn của người Mông trong tỉnh Điện Biên.
- Các Nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân dân gian người Mông luôn sẵn sàng, tự nguyện truyền dạy nghệ thuật chế tác và múa khèn mông cho thế hệ trẻ trong cộng đồng để có sự tiếp nối, kế thừa và phát huy nghệ thuật truyền thống này.
- Đối với du khách thập phương, việc sở hữu một cây khèn Mông ưng ý luôn là niềm vui và tự hào, cây khèn luôn được những người có nó nâng niu trân trọng, trưng treo ở những vị trí đẹp trong ngôi nhà. Bằng đó cũng đã tự khẳng định vị trí, giá trị đặc biệt và sức sống trường tồn của khèn Mông, không chỉ riêng với người Mông.
Thông tin khác
Những thông tin khác về di sản
Tập tài liệu liên quan